NHÀ GIÁO VÀ THƠ - Phạm Xuân Dũng

By VÕ VĂN HOA

alt 

                      * Từ trái sang: Nhà thơ Trần Đình Thành + anh em Võ gia !

NHÀ GIÁO VÀ THƠ

 

        Thời nh giáo ngự trị các ông đồ ít nhiều đều là những nhà thơ nhà văn. Dòng máu thi nhân cũng chảy trong huyết quản bao người Việt từ truyền thống đến hiện tại. Nhiều nhà giáo Quảng Trị hôm nay dù công việc và đời thường bề bộn vẫn lai láng một niềm thơ.

          Ở tỉnh ta tên hai nhà giáo hai anh em ruột làm thơ Võ Văn Hoa và Võ Văn Luyến có lẽ không còn quá xa lạ đối với bạn đọc. Võ Văn Hoa dường như tâm đắc với văn xuôi thể hiện được nhiều suy tưởng qua những trữ tình thế sự. Trong bài thơ “Tiên Điền” anh viết:

          “Tế Hanh có “Bài học nhỏ về nhà thơ lớn” chuyện hôm nay có khác hơn. Trẻ em ở đầu làng đã đọc thuộc Kiều đương nhiên chỉ còn tận tường cho tôi đường về mộ Nguyễn.

          Tiên Điền tôi qua chỉ một lần thôi. Nhưng người giảng Kiều lâu năm trong tôi sẽ nhập thần hơn từ buổi sớm mai này”.

          Cũng vậy bài thơ văn xuôi “Vĩ Thanh Thành Cổ” chan chứa tâm tình sử ký của một người dạy học và làm thơ:

“ Những mảnh vụn phế hưng cuộc đời. Cậu học sinh tú tài và nỗi đau thế sự. Cả Thị xã máu trộn cùng vôi vữa trắng thời gian. Dòng Thạch Hãn như vết cắt nhói tràn đất mẹ.

          ...Giờ Thành cổ hôm nay đã hồi sinh dáng phố và em đã là cô giáo. Bài giảng trực quan: Sau trước xung quanh. Dẫn các em đi trong lưu dấu Cổ Thành."

          Thơ Võ Văn Luyến nghiêng về những hoài niệm riêng tư. Đôi lần con mắt thơ trong anh ánh lên sự nhìn của “Bụi nhìn mây trắng”.

                             “Nhiều khi lòng mênh mông như biển

                             Những cồn cào một giọt nước dòng sông

                             Thèm vô ưu bên trời người thoáng hiện

                             Giữa ngọt ngào ta lại hóa hư không

                                                                             (Không đề ở Biển)

Và kỷ niệm thì thường vẫn tri kỷ với những câu thơ xúc động bồi hồi và tiếc nuối:

“ Anh về muộn chân trời đùn mây trắng

Trang thư xanh gió lập sấp vô hồi.

Nghe lồng ngực nhói đau nghèn nghẹn

Thời gian ngừng muốn đọng mắt em tôi”

                                                                             ( Lỗi hẹn cùng xuân)

          Gần đây Võ Văn Luyến muốn bước ra ngoài lối cũ bằng thử nghiệm với thể thơ tứ tuyệt. Vẫn mong anh trên đường thơ chân cứng đá mềm.

          ...Nhiều nhà giáo làm thơ chưa hẳn nghĩ mình phải trở thành thi sĩ cũng chẳng sao nếu cuộc đời thêm được một người thơ đã là điều đáng quý

 

                                                                 Nhà báo Phạm Xuân Dũng

                                                                  ( Đài PTTH Quảng Trị)

                                                          (Báo Quảng Trị cuối tuần số 1542 ra ngày 11/01/2003)

More...

Mấy ý nghĩ bên lề 200 số Tạp chí Cửa Việt - VÕ VĂN LUYẾN

By VÕ VĂN HOA

alt

Mấy ý nghĩ bên lề 200 số Tạp chí Cửa Việt

          Những gì làm nên dáng vóc của một tờ báo văn nghệ ngoài vai trò “bà đỡ” là nội năng sáng tạo của người viết và sức tỏa phát của tác phẩm. Ở vị trí thứ nhất thực tế cho thấy bà đỡ là linh hồn là người cầm cờ vẫy gọi quy tụ tài năng và đẩy con thuyền văn nghệ vượt lên hoặc giật lùi; nó không chấp nhận giải pháp bảo toàn bằng sự cầm chừng mà cần đến sự tôn trọng khuyến khích những tìm tòi sáng tạo mới. Ở vị trí người viết thành quả sáng tạo được đảm bảo không nằm ở quyền lực phán xét của một cá nhân nào mà ở công chúng hiểu biết thừa nhận hay không. Dễ thấy ở địa hạt thơ thấp thoáng đâu đó cố lấy được để chứng tỏ những “phu chữ” (Lê Đạt) nhưng dường như những hạt chữ gieo xuống không nẩy mầm. Những con mắt thơ thừa biết điều này. Ngay cả với kiệt tác có ý kiến cho rằng “Đoạn trường tân thanh ý là chính chứ không phải là lời lời hay mà ý kém thì có nghĩa gì” (Nguyễn Thế  Quang). Rõ ra vấn đề còn cần bàn thêm. Nhưng soi xét không ít những tác phẩm thơ được ý non chữ được chữ non ý. Người thơ không làm chủ mình và không biết dừng lại đúng lúc ở chỗ nào. Nên chăng tạo nếp sinh hoạt về việc “bếp núc” này để có cơ hội trao đổi chia sẻ? Bởi suy cho cùng người sáng tạo tự khoác chiếc áo bản lĩnh giả không cầu kiến tự bằng lòng chính mình có khi đó là nguyên nhân của sự dừng lại. Đó là chưa nói đến tâm lý thích khen làm phương hại đến con đường đi tới của chủ thể sáng tạo.

         Những quan hệ tương tác nói trên quan trọng nhưng quyết định phải là chất lượng tác phẩm. Trong 200 số tạp chí Cửa Việt không mệt mỏi đổi mới nội dung và hình thức. Nói theo cách văn nghệ các anh chị ấy đã cố gắng làm sao cho “y phục xứng kỳ đức” và trên đại thể không thể không công nhận những đóng góp mở đường. Văn bút các tác giả ngày càng được tung tẩy hòa phóng thoải mái hơn gây được chú ý của người đọc nhiều hơn. Tuy nhiên cũng cần nhiều hơn những tác phẩm mang hơi hướng phản biện xã hội (thơ ký truyện) phản biện nghệ thuật (nghiên cứu phê bình). Còn nữa ngoài lực lượng sáng tác tại chỗ nên giới thiệu những tác giả (trong/ngoài nước) mang phong cách bút pháp mới nhằm cập nhật và khơi gợi nhiều chiều trong đổi mới văn học. Cần quan tâm nhiều hơn những cây bút năng sản tỉnh nhà nhiều triển vọng và trưởng thành kích thích động cơ đốt trong ở họ mạnh mẽ hơn tạo luồng sinh khí mới cho văn chương một vùng đất.

      Như bất kỳ một sinh thể nào muốn phát triển phải có chiến lược lâu dài. Cái khó không của riêng ai nhưng chúng tôi tin Tạp chí Cửa Việt sẽ được mùa hoa quả nhiều hơn nữa khi cây cành đã tỏa bóng. Xin lạm bàn đôi điều với tình thần xây dựng. Chúc tạp chí của chúng ta “mãi mãi xanh tươi”!

 

                                                                            Võ Văn Luyến

 

 

More...

Câu thơ nghìn dặm tìm về - VÕ VĂN LUYẾN

By VÕ VĂN HOA

14h30 ngày 01/5/2011 tại Khu du lịch sinh thái Tích Tường (Thị xã Quảng Trị) Nhà thơ – Nhà giáo Võ Thị Như Mai sẽ ra mắt tập thơ & tản văn “Bên kia tít tắp đại dương” (nxb Văn học 2011) nhân chuyến về thăm quê và gặp gỡ thi hữu. Nhà thơ Võ Văn Luyến có mấy dòng cảm nhận thay lời chúc mừng tác giả.

 

Câu thơ nghìn dặm tìm đường về quê

 

 

“Bên kia tít tắp đại dương”

Câu thơ nghìn dặm tìm đường về quê

    1. Về quê về với chính mình; về với đồng bãi tuổi thơ chất đầy kỷ niệm; về với giông gió cuộc đời một thời thương khó; về với dịu ngọt thảo thơm quê cha đất tổ; về với hun hút ánh nhìn đôi mắt biết tím thuở nào. Muôn nẻo về có khi những con chữ không nói hết được. Nhưng tôi tin ở con tim thao thiết tiếng gọi về trong thơ Võ Thị Như Mai. Điều này được chị mở lòng với anh trai của mình mà như cùng sẻ chia với bạn đọc:

     Em vẫn thế - như ngày xưa - vẫn thế

     Trải hồn nhiên giữa cuộc đời dâu bể

     Đem chân thành mến tặng bao người.

                      (Thay lời nói đầu)

  Và ngay cả lúc người thơ “độc diện đàm tâm” bóng đêm vây kín cũng không cưỡng được tiếng lòng vang ngân:

     Đêm

     Ta chạm bóng mình

     Hình như là gió

     Tự tình lao xao

                   (Đêm)

  Với chị tìm tới ngôn từ không chỉ là cách giải bày tâm trạng mà hơn thế thực chứng sự hiện hữu cá thể. “Tôi chỉ có ngôn từ để thấy mình còn tồn tại giữa hư thực tỉnh mê”. Có lẽ không hiếm lúc người thơ khoác chiếc áo màu tro lạnh “liêu xiêu” “lênh đênh” đi như trôi giữa dòng đời ba động tôi nghĩ thế. Bởi trên dặm dài nhân sinh trái tim nhạy cảm vốn giàu có sự dự báo tiếng sét ái tình:

     Em sợ trái tim mình chằng chịt

     Trúng độc men yêu rồi ngơ ngẩn giữa đời

                      (Melbourne vào đông)

  Cũng lắm khi người thơ tự mình nhận cảm:

     Tôi thả rơi nỗi hoài nghi vào phố

     Nghe liêu xiêu bóng đổ

     Như tôi mãi liêu xiêu ở mãi tận chân trời.

 

  Hay:

     Là em là em gánh giấc mơ nặng nhọc

     Trên đôi chân nhẹ tênh

     Là em của lênh đênh

     Trong màu mắt anh có còn không đắm đuối

                                (Đón tết)

  Biết làm sao được tình yêu vẫy gọi người ta nhằm về phía trước. Ở đó luôn sẵn bày mật ngọt nhưng cũng không thiếu dụ dẫn mộng mị hoang đường. May mắn thay người đàn bà trong thơ chị dám đánh cược “rủi may” phận số:

      Cô thả rủi may vào ly kem chảy tan loang lổ vàng nâu thở dài đẩy vào một góc

      Sau tẩy trang là đôi mắt rất hiền thẫn thờ ngắm sao trời

                              (Hoài)

   Viết về họ bằng sự yêu tin hướng tới và vì thế ta như bắt gặp người thơ nhập cuộc trong đội hình những “mẫu phụ nữ hiện đại tự tin” (chữ dùng của VTNM)

      2. Ai đó nói rằng tình yêu không chỉ sự lấp đầy mà tự mình đốt lên ngọn lửa trái tim. Trái tim làm người ta sáng ra bổn phận biết yêu nguồn cội biết lắng nghe thanh âm đồng vọng từ miền sâu thẳm.

      Tôi lần dò tìm tôi trong bóng tối

      Men theo tiếng rì rầm của con sông trong xanh

     Để tìm về nguồn cội

                        (Khi đọc thơ Khaly)

   Nguồn cội với người con xa xứ là nỗi nhớ quê nhớ “tiếng mẹ ấm trong hơi thở” nhớ “những giọt nước mưa/ Lớm rớm” nhớ “hàng dương rợp mát con đường/buổi chợ quê nôn nao hàng tôm cá/bờ đá không dấu chân người rêu phủ xanh um” nhớ “rơm rạ đồng khô/từ những ngày khoai sắn độn cơm/ hái đọt rau lang sau vườn chấm ruốc” “nhớ tô cháo vạc gường của cô bé tóc dài thanh lịch...”. Ôi chao bao nhiêu là nỗi nhớ khi thầm thỉ lúc cồn cào nhưng ẩn giấu trong đó sự đằm thắm chứa chan đến nao lòng:

      Thưa rằng có dịp về thăm

      Vết thương màu nhớ gửi trăm cánh chuồn

      ủ mềm kỷ niệm rồi buông

     dặm trường mê mải nỗi buồn đang vui

             (Bài lục bát duy nhất)

  Nỗi nhớ là kỷ niệm. Kỷ niệm trăm chiều khôn tả. Ừ thì mượn lời ru cho sóng lòng giải tỏa:

      Em như con dã tràng lang thang hoài trên cát

      Ru anh – mượn tiếng sóng vỗ về

      Ru anh gập ghềnh vượt qua khỏi dốc mê

      Xòe bàn tay vuốt nhẹ lên mặt cỏ

      Nỗi đau không là vết lằn lên da như làn roi hồi nhỏ

      Thắp sáng ngọn đèn tự dẫn lối đường xa

                      (Ru anh)

    Bên trời thương nhớ giờ đây chị đã đính lên cây tình yêu tổ ấm cho mình bên bờ đại dương . Và cây “tình yêu sẽ vượt lên như một niềm kiêu hãnh” tôi tin ở chị như tin câu thơ nghìn dặm đường về.

 

                                                             15h30 30/4/2011

                                                     Võ Văn Luyến

More...

Góp thêm một cách hiểu về thơ nhìn từ thông diễn học hiện đại - NGÔ HƯƠNG GIANG

By VÕ VĂN HOA

Góp thêm một cách hiểu về thơ nhìn từ thông diễn học hiện đại


 

 “Để hiểu được câu thơ chúng ta cần nắm vững được thế giới sống của câu thơ đó và để biết được cái thế giới sống đó ta chỉ có thể dựa vào những cơ cấu kiến cấu… mà ta thấy trong ngữ học trong cách thế suy tư (logic) trong các bộ môn khoa học”.

 alt

Thông diễn học là khoa học nghiên cứu về hoạt động hiểu và diễn đạt (bao gồm diễn giải và tái diễn giải) đúng đắn những gì đã hiểu (H. G. Gadamer - Chân lí và phương pháp). Đây là cách hiểu đi đúng theo tinh thần của thông diễn học hiện đại. Điểm phân biệt giữa thông diễn học hiện đại với thông diễn học truyền thống ở chỗ các nhà thông diễn học truyền thống cho rằng thông diễn học như là biểu hiện và khôi phục lại ý nghĩa trong khi đó các nhà thông diễn học hiện đại khẳng định thông diễn học hiện đại quan tâm đến sự hiểu và diễn giải lại đối với sự hiểu nhằm phá vỡ hoặc giảm bớt ảo tưởng. Do vậy các nhà thông diễn học hiện đại gắn liền với tâm thế hoài nghi trước văn bản trong đó niềm tin của nhà thông diễn học hiện đại không thuần túy ở việc tìm lại nghĩa sau khi đã đi sâu tìm hiểu các kiểu bối cảnh trong và ngoài văn bản cao hơn các triết gia này quan niệm niềm tin mà họ hướng tới văn bản là một niềm tin có lí tính bởi vì niềm tin ấy đã trải qua quá trình phê phán. Nó để lại dấu vết mối bận tâm về đối tượng với những trăn trở suy nghiệm nó thôi thúc con người cần phải có thái độ giải thiêng nghiêm túc. Tâm thế của nhà thông diễn học hiện đại đi vào văn bản không phải để hiểu miêu tả và tái lặp nó trái lại quá trình ấy phải được thực hiện và tiến hành bởi liên tiếp những hình thức tái diễn giải lại đối tượng và viết lại chính là phương pháp mà các nhà thông diễn học hiện đại sử dụng để giải cấu trúc đối tượng thông diễn. Bởi vì hiểu và lặp lại sự hiểu trong quá trình diễn giải thực chất là một sự hồi tưởng và như vậy nó đã hoàn tất cho nên tái lặp là một hoạt động hướng về phía sau (nghĩa là tin và đi theo một cách thụ động thiếu tính giải thiêng về đối tượng). Thông diễn học truyền thống đi theo tinh thần này với đại diện tiêu biểu: J.C.Dannhauer Schleiermacher xem thông diễn như là một Hệ Thống Phương Pháp Giải Thích các Văn Kiện Thánh Kinh; Descartes Hégel xem Thông diễn như là một sự hiểu thấu suốt và thông suốt tất cả quy luật của lịch sử tức nắm được cái tinh thần của lịch sử (Geist der Geschichte) nằm sâu trong và ở đằng sau các hiện tượng; nhóm đi theo quan điểm của Dilthey thì xem thông diễn học như là một nền tảng lịch sử và mang nhân tính để xây dựng một phương pháp luận đặt nền móng cho nền khoa học tinh thần…Trong khi đó hiểu và tái diễn sự hiểu trong quá trình diễn giải cần được quan niệm như là một hồi tưởng hướng về phía trước. Đó là một quá trình mà nhà thông diễn hiện đại không ngừng đặt ra những nghi vấn về vấn đề mà văn bản và tác giả quá khứ (hoặc cùng thời) đặt ra để từ đó thâm nhập vào bối cảnh văn hóa (gồm bối cảnh bên trong + bên ngoài văn bản) do văn bản vẫy gọi trên cơ sở đó hiểu những vấn đề mà bối cảnh ấy đặt ra: vấn đề nhân sinh xã hội đạo đức thiết chế…thông qua sự trao đổi nghĩa các lớp kí hiệu. Về điều này P.Ricoeur có lí khi nhận xét “Khuynh hướng tuân thủ vận động của nghĩa vận động này xuất phát từ ý nghĩa cụ thể sát thực […] hướng tới nắm bắt cái gì đó nằm trong vùng linh thiêng”(1) tức là hướng tới ý nghĩa biểu tượng. Với quan niệm trên Ricoeur cho rằng hoạt động thông diễn hướng niềm tin vào ngôn ngữ một thứ ngôn ngữ nói với mọi người nhiều hơn là được nói bởi mọi người. Trên cơ sở của cách nghĩ ấy ông xem Marx Nietzsche và Freud như là ba bậc thầy hoài nghi vĩ đại học thuyết của họ là kết quả của một quá trình phá hủy những cấu trúc cũ để tái lập một cấu trúc mới và mỗi người theo cách riêng của mình đã sáng tạo ra một cách diễn giải phù hợp. “Bằng việc xây dựng khoa học trực tiếp về nghĩa họ chỉ ra mối quan hệ che giấu – biểu lộ như là phạm trù căn bản của ý thức và kết hợp phương pháp giải mã “ý thức” với công việc giải mã “vô thức” mà họ gán cho ý chí quyền lực cho bản thể mang tính xã hội cho bộ máy tâm lý vô thức”(2). Trong khi thông diễn học truyền thống lấy sự tái hợp ý nghĩa làm nền tảng thì thông diễn học hiện đại lấy diễn giải như là “sự thực hành hoài nghi và trở thành thông diễn giải [cấu trúc] hoặc thực hành ảo tưởng”. Điều này trong các văn bản thời kỳ Hậu hiện đại đặc biệt phổ biến các nhà diễn giải hậu hiện đại coi việc phá vỡ giới hạn của những cấu trúc cũ như là một phương thức để kiến tạo một trật tự cấu trúc mới mà những triết gia tiên phong cho khuynh hướng này là những nhà hậu cấu trúc và giải kiến tạo như: U.Eco H.Jauss R.Barthes M.Foucault G.Deleuze I.Hassan…đặc biệt là J.Dérrida. Họ cho rằng “cần phải phá vỡ tất cả những gì có thể phá” và văn bản chính là trung tâm của mọi hoạt động phá vỡ và kiến tạo bởi “không có gì ngoài văn bản” (J. Dérrida) do đó phá vỡ cấu trúc của một văn bản là phá vỡ một hệ thống thông tin đã lạc hậu và một thông tin mới được xác lập khi ngôn ngữ thay đổi. Viết chính là hình thức để thay đổi ngôn ngữ. Sự triển hạn vô tận của những kiểu ngôn ngữ khác nhau sẽ quy định sự luân phiên của những kiểu văn bản khác nhau. Theo nghĩa ấy tiến trình lịch sử và xã hội cũng chạy dài theo cuộc phiêu lưu trao đổi từ những kí hiệu biểu trưng của ngôn ngữ và đó chính là động lực để tiến hóa xã hội loài người. Xem xét thơ trong mối quan hệ với thông diễn học hiện đại bài viết cũng không đi ra ngoài những vấn đề đã nêu ở trên.


Bàn về thơ quy kết cho thơ một cách hiểu duy nhất là một việc làm mạo hiểm. Những cách diễn giải về thơ ở một góc độ nào đó đứng về mặt khoa học thực chất chỉ là góp thêm một cách hiểu chủ quan về thơ còn xem nó như một hệ chuẩn là một việc làm dường như là vô ích bởi vì khi chúng ta hướng đến thơ và cố khuôn thơ vào một lối viết nào đó đều là biểu hiện của những cách nghĩ khác nhau về một đối tượng: Sự áp đặt của kinh nghiệm của ý đồ về thơ. Các nhà phê bình thường suy xét hoạt động phê bình thơ như là một hướng đi của tư duy về thơ. Theo nghĩa ấy mỗi nhà phê bình thơ đã tự khai tử cách nghĩ của mình về việc cố tạo ra một định nghĩa cho thơ hoặc là nhà phê bình tự mâu thuẫn giữa ý chủ quan và việc làm khách quan hoặc cố tạo ra một mặt nạ cho một dạng thức học thuật. Theo nghĩa ấy việc tạo ra một định nghĩa về thơ thực chất là sự nài ép độc giả vào khả năng vây hãm của một định chế ngôn từ trong khi đó bản chất của thơ là tự nhiên mọi việc làm có hướng thu hẹp khoảng tự nhiên ấy đều có nguy cơ đẩy thơ tới bờ phá sản. Claude Lévi Strauss có lý khi nhận ra một sự thực “Nỗi bất lực này lại càng thêm khó chịu khi tôi giữ vai trò là người giám sát: bởi vì…thí sinh yếu kém nhất dường như đã nói đầy đủ tất cả [mọi sự thực về tri thức] cứ như là các đề tài [được lựa chọn như những sự việc đã được dựng sẵn đáp án] tan biến đi trước mắt tôi chỉ do cái điều duy nhất là tôi đã từng một lần gán suy nghĩ của tôi cho họ”(3). Theo nghĩa ấy cố phác họa một cách đọc về thơ là một việc làm mạo hiểm và có chủ ý. Do vậy chúng tôi không cho rằng hoạt động viết này như một quá trình tìm ra phương pháp diễn giải về thơ mà thực chất là cố gắng vạch ra những dấu hiệu cho phép nhận biết và ở một góc độ có thể giúp cảm được tốt hơn về một bài thơ dựa trên những ý kiến của các nhà lý luận - phê bình bàn về thơ đã từng làm.


Lối viết thơ không trộn lẫn theo lối viết văn xuôi và kịch. Do vậy bản chất về thơ trong việc khơi gợi một sự hiểu và sự “dấn thân” ở độc giả so với hai thể loại trên là không giống nhau. J.Sartre có lý khi ông nhận ra “người ta trách tôi ghét thơ: chứng cớ là tạp chí Thời hiện đại in rất ít thơ; ngược lại đấy là bằng chứng tôi yêu thơ”(4). Quan niệm này của Sartre không phải là một lời bào chữa đối với độc giả về sức sáng tạo của mình sâu hơn cách quan niệm dường như có chút vô lý trên của ông lại chứng minh rằng ông là người hiểu thậm chí hiểu rất tường tận về thơ. Bởi vì ông đã nhận ra một thực tế rằng thơ không phải là một công cụ là nô lệ của ngôn ngữ trái lại nó không có chút lệ thuộc nào về ngôn ngữ nó kêu gọi khả năng “thánh hóa” của thi sĩ với những hoạt động tạo tác ngẫu nhiên bất thường khi sáng tạo và đó là thơ và người làm được việc đó là một nhà thơ đích thực. Ông biện giải vấn đề này như sau “văn xuôi không sử dụng các từ theo cùng một cách như thơ và thậm chí nó không phục vụ các từ. Thi sĩ là những con người từ chối dùng ngôn ngữ”(5) nếu chúng ta hiểu ngôn ngữ như thể là tư duy và vượt trên cả tư duy thì quan niệm trên của Sartre về thơ là có lý. Bởi vì thơ không phải là tấm gương phản ánh bản chất của đối tượng mà tự nó là một bản chất và từ nó độc giả có thể tìm ra cái bóng của tồn tại nằm trong đó và nhà thơ không phải tấm gương phản ánh xã hội ngược lại xã hội bị phản ánh khi anh ta khám phá chính con người mình với bản thể tinh thần và vô thức của mình đây là thái độ nhiệt tình về bản thể luận của Hégel và cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa thơ và các thể loại khác giữa thi sĩ và những cá nhân phi thi sĩ. Có lẽ một cách hiểu hợp lý hơn về thơ nếu ta trở về với R.Jakovson khi ông bàn về cách quan niệm giống như Sartre và gọi tên nó là chức năng thi pháp (function poétique). Đọc thơ không phải là tìm ra cái nghĩa của nó người đọc thơ không phải là người lục lọi xem nhà thơ đã nói gì cái chính là nhà thơ đã nói như thế nào? Theo nghĩa ấy hoạt động đọc thơ của độc giả thực chất là tìm xem trong bài thơ ấy về đặc trưng về cái hay trong lối tạo lời cái hay về hơi nói về giọng điệu của thi nhân. Do vậy điểm khác nhau cơ bản có tính bản chất giữa thơ và văn xuôi thể hiện ở chỗ thơ là một dạng ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng chỉ khi lấy mình làm đối tượng thì thơ mới vượt thoát khỏi thực tại và tìm đến một thế giới khác chỉ khi thơ là thơ thì khi ấy thơ mới làm giàu về từ ngữ và triển hạn về ý nghĩa bởi vì “thi sĩ là những kẻ cuối cùng còn sót lại biết rằng từ ngữ xưa kia cũng là những giá trị” (Claude Lévi Strauss - Cấu trúc thần thoại). Việc coi thơ như là ngôn ngữ lấy mình làm đối tượng R.Jacobson muốn đặt lại vấn đề tính tự do trong thơ ông nhấn mạnh “thơ chỉ là một ngôn đề nhắm vào biểu thức (un énocé víant l’expession) có thể nói và vận hành trong quy luật nội tại; chức năng truyền đạt đặc biệt của ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ truyền cảm bị giới hạn đến mức tối đa”(6) chính điểm này đã đưa đến quan niệm ngôn ngữ thơ như là bản chất của một kiểu siêu ngôn ngữ ở đó mọi tồn tại chỉ còn là một lớp của những mục đích mà nhà thơ hướng tới trong thơ. Do vậy hoạt động diễn giải với thơ là một việc làm nan giải mọi hoạt động giải thích và giải nghĩa không tác động nhiều tới việc giải mã quan trọng hơn người diễn giải cần nhận ra rằng diễn giải thơ không phải là để hiểu nó mà là để cảm và sống về nó nhiều hơn và điều ấy phụ thuộc vào nghệ thuật chuyển nghĩa (Ars interpretandi) của bạn đọc. Tất nhiên để đến được cách chuyển nghĩa phù hợp về thơ thì việc xác định những dấu hiệu (về nghĩa và thủ pháp) xuất hiện trong bài thơ mà qua đó bài thơ có thể dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của nó với những ý nghĩa mà nó đem lại là việc làm không thể bỏ qua từ phía độc giả. Nếu nói theo R.Jakobson hiểu ngôn ngữ không phải là nhìn thấy mỗi từ mỗi ngữ hay nghe âm thanh nhưng là hiểu được cái ý nghĩa của từ của âm và của dấu (ký) hiệu. Nhưng để hiểu dấu hiệu ta lại cần phải nhờ đến những dấu hiệu khác. Nói cách khác cái ý nghĩa của ngôn ngữ là do một hệ thống liên quan giữa các biểu thị (dấu hiệu ký hiệu) mà không cần câu nệ đến chính sự vật mà ngôn ngữ muốn biểu tả. Vậy nên theo Jakobson hiểu ngôn ngữ tức hiểu được sự tương quan giữa các dấu hiệu và nhất là nắm vững được cái quy luật của dấu hiệu. Nhưng nói như vậy vẫn chưa đủ bởi vì dấu hiệu (sign) trước hết là một ký hiệu (signified) và là một tín hiệu (signifiant) đương phát sinh ra những thông tin. Chính vì vậy mà luật của dấu hiệu không phải tự nhiên nhưng được cấu tạo trong một thế giới sống nào đó và chỉ mang ý nghĩa cho những người có một cuộc sống tương tự như thế đó là lí do giải thích tại sao cùng một hình ảnh thơ lại đem đến nhiều sự hiểu khác nhau chẳng vậy mà Truyện Kiều đã từng dậy lên một cuộc tranh luận kéo dài qua nhiều năm trên văn đàn đầu thế kỷ XX những tranh luận ấy chỉ là vì những dấu hiệu mà qua hơi thơ giọng thơ điêu luyện đem lại có hướng đối nghịch về những lẽ sống và về kinh nghiệm mỹ cảm khác nhau của mỗi lớp độc giả. Nhà thơ thực chất là những người tư duy ngược về thực tại ngôn ngữ thơ của họ là những lớp nghĩa được diễn giải nghịch với lẽ thường và biến thành tín hiệu (significant) chỉ cho những người tin hay chấp nhận chúng bởi vì chỉ đối với họ và trong một thế giới của những người cùng niềm tin mà một ký hiệu mới phát sinh ra ý nghĩa (tín hiệu). Cơ sở để thơ tồn tại là ở cái hơi thơ hay nói cách khác là tính thơ xuất hiện chính kết cấu ngược đã tạo nên nét độc đáo của thơ và tạo ra sự đồng điệu với những tò mò của độc giả đó là cách làm cho thơ “lạ hóa” là cách để thơ tồn tại. Một bài thơ chỉ tồn tại nếu như mang một kiểu hình thức có sức làm thay đổi cả diện mạo thơ trong một giai đoạn nghĩa là nó tạo ra được một hệ hình thi pháp đặc trưng và như vậy theo nghĩa ấy những hình thức nếu cách tân mà xa rời với cảm quan (kinh nghiệm mỹ cảm) của độc giả sẽ báo hiệu khả năng tự thải hồi của nó. Bởi vì sự biến đổi không ngừng giữa ký hiệu (cái biểu đạt) và tín hiệu (cái được biểu đạt) là một tính chất đặc thù của ngôn ngữ con người. Do đó luật của ngôn ngữ không phải là những quy luật giữa các dấu hiệu đã có sẵn hay đã được quy ước luật của ngôn ngữ phản ánh cái quy luật của cuộc sống con người của mối giao tiếp giữa con người với nhau giữa con người với vạn vật vân vân… Thế nên dấu hiệu có thể cùng một lúc là ký hiệu và tín hiệu cùng một lúc là một biểu hiệu (hay biểu tượng hay ấn hiệu) và là dấu hiệu. Bởi lẽ cho tới cùng mỗi ngôn mỗi ngữ mỗi từ mỗi tự hay mỗi dấu hiệu đều chỉ ra một hành động một thái độ một tâm tình hay một cách sống nào đó. Nói tóm lại để hiểu được câu thơ chúng ta cần nắm vững được thế giới sống của câu thơ đó và để biết được cái thế giới sống đó ta chỉ có thể dựa vào những cơ cấu kiến cấu… mà ta thấy trong ngữ học trong cách thế suy tư (logic) trong các bộ môn khoa học.

NGÔ HƯƠNG GIANG


NVTPHCM online

Nguồn: http://ngoxua.vnweblogs.com/post/7198/293396

More...

BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG": NỖI NIỀM CỦA NGƯỜI CON GÁI XA QUÊ - Lê Ngọc Trác

By VÕ VĂN HOA

 

BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG":
NỖI NIỀM CỦA NGƯỜI CON GÁI XA QUÊ

* Lê Ngọc Trác

 

Cuối mùa xuân năm nay nhân dịp sinh nhật lần thứ 35 của mình Võ Thị Như Mai gửi đến những người yêu thơ thi phẩm " Bên kia tít tắp đại dương". Tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản.

Võ Thị Như Mai nguyên quán ở làng Mỹ Chánh Hải Lăng tỉnh Quảng Trị sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt. Khi tốt nghiệp đại học có một thời dạy học tại Châu Đức tỉnh Bà Rịa. Hiện nay Võ Thị Như Mai sống ở miền Tây nước Úc và là giáo viên đang dạy học tại trường Dryandra.

" Bên kia tít tắp đại dương" là tập thơ thứ hai của Võ Thị Như Mai sau thi phẩm "Tản mạn thơ" được Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành từ năm 2009.

Tập thơ gồm hơn 50 bài thơ và 6 bài tản văn mà phần lớn là những bài được Võ Thị Như Mai sáng tác khi ở phương trời miền Tây nước Úc bên kia bờ đại dương tít tắp mù khơi. Người đọc bắt gặp những vần thơ với ngôn từ giản dị trong sáng chân thật và đầy cảm xúc. Với một tâm hồn nhạy cảm Võ Thị Như Mai đã bắt những con chữ chạy theo cảm xúc của mình khi trong lòng chợt rung lên tha thiết trước những hình ảnh đầy ấn tượng. Võ Thị Như Mai viết về những vùng đất đã từng qua từng sống viết về tình yêu về những hoài niệm một thời chưa xa về hình bóng quê nhà: Hải Lăng – Quảng Trị một thời nghèo khó hay Đà Lạt ngàn hoa của một thời mộng mơ. Võ Thị Như Mai viết những câu thơ chứa chan tình yêu với niềm tin hạnh phúc:

"là em là em là em

là em nồng nàn em tha thiết

là em cài nụ hồng lên môi

dõi mắt trông biền biệt

ưu tư và lụy phiền

 

là em là em thôi rất hiền

có khi buồn cũng khóc

là em là em gánh giấc mơ nặng nhọc

trên đôi chân nhẹ tênh

là em của lênh đênh

trong màu mắt anh có còn không đắm đuối

 

em gói mùa xuân giấu vào hộp tuổi

xóa đi những vết nhăn

em hái tặng anh nụ hôn vĩnh hằng

đặt vào trong túi áo

để em nghe trái tim anh táo bạo

riết róng nhịp tình gần ...."

(Trích "là em")

 

Trong khoảnh khắc người đọc bỗng cảm thấy cuộc sống điềm nhiên xanh tràn đầy yêu thương trước những câu thơ của Võ Thị Như Mai:

 

"sinh nhật tháng năm

gửi yêu thương vào tóc bím

đôi má hồng ngây thơ mười tám

vào cái nháy mắt vu vơ lưu luyến rất đằm

 

có những khoảnh khắc chỉ hòa tan vào máu thịt một lần không hơn

dòng chảy suy tư âm thầm trêu phạm trù cảm xúc

rừng hoa Linh Lan hòa chung nhịp nhớ nhung kết thành ca khúc

cho hành giả nghiêm trang khe khẽ hát trong chiều

 

mấy mươi cái mặn mà

và thế là có một mùa quá đỗi thương yêu!"

 (Trích "điềm nhiên xanh")

Toàn bộ tập thơ " Bên kia tít tắp đại dương" thể hiện nỗi niềm của một người con gái sống xa quê hương xứ sở. Nỗi cô đơn ở phương trời xa lạ:

"một mai thức dậy thấy mình trơ trọi giữa sa mạc hoang vu

không người thân không cây xanh không mái hiên râm mát

hơi thở cũng chẳng phải của mình e rằng hồn đi lạc

quờ quạng bên nào cũng trống vắng như nhau"

(Trích "như có như không")

Và trong con tim bé nhỏ luôn luôn hướng vọng về quê hương đất mẹ với nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi:

"ở xứ người có loài kangaroo

cứ mỗi sáng chúng nhảy lui nhảy tới

thảo nguyên trải dài vời vợi

mơ quê hương ở cuối chân trời

 

một chiếc lá cong khô chao rơi

đã bắt đầu yêu nơi dừng chân này anh ạ

chỉ sợ cuối thu gom mưa về nhiều quá

mỗi giọt rơi là một nỗi nhớ người

..."

(Trích "một ngày trở lạnh")

Đối với người Việt chúng ta xuân về tết đến là ngày gia đình sum họp những đứa con đi xa đều trở về đoàn tụ dưới mái ấm gia đình. Riêng đối với những ai sống xa quê hương xứ sở nay chỉ còn "đón tết online":

"mùa xuân này con đón Tết online

đón Tết qua phone nghe tiếng Mẹ ấm trong hơi thở

đọc thơ bạn đó đây yêu  mùa xuân lách khách cười hớn hở

con trai hồn nhiên chưa biết Tết quê mình

...

 

bao năm rồi con đón Tết online

may mà vẫn còn nghe nàng xuân khều lanh canh trong trí nhớ

may mà vẫn còn nghe hơi ấm của mẹ qua phone trong từng nhịp thờ

bên khung cửa xứ người lặng lẽ một nụ mai

bên khung cửa xứ người nỗi nhớ bẻ làm hai"

 (Trích "đón tết ")

Võ Thị Như Mai viết những câu thơ thật giản dị đến tự nhiên. Không có một từ nào thốt lên nỗi thương nhớ đau buồn. Nhưng sao khi đọc xong chúng ta nghe lòng mình nặng trĩu và cay cay trên đôi mắt...

Trong tập thơ chỉ có một bài duy nhất Võ Thị Như Mai viết theo thể thơ lục bát. Ý và lời nhuần nhuyễn sâu sắc tạo được độ rung đưa người đọc trở về với những thương nhớ xa xăm trong cuộc đời:

"hình như người vẫn như xưa

xốn xang mắt biếc đong đưa nụ cười

chuyển mùa lá nõn xanh tươi

quạnh hiu là bởi dế lười ca thôi

 

Em về khua  bớt đơn côi

gieo câu lục bát đãi bôi nỗi lòng

dương như bưởi đã trổ bông

mưa đã ngớt phía dòng sông nắng đầy

 

nhập nhằng ký ức tuột tay

ngờ đâu quên bẵng tháng ngày xa xăm

thưa rằng có dịp về thăm

vết thương màu nhớ gửi trăm cánh chuồn

 

ủ mềm kỷ niệm rồi buông

dặm trường mê mải nỗi buồn đang vui"

(bài lục bát duy nhất)

Qua tập thơ " Bên kia tít tắp đại dương " của Võ Thị Như Mai chúng ta nhận thấy: Những bài thơ hấp dẫn được người đọc là những bài thơ được viết từ những rung động chân tình. Người đọc đều cảm thấy có hình ảnh và tâm sự của mình trong thơ.

Võ Thị Như Mai là một người "yêu thơ cực kỳ". Chúng tôi tin rằng trong tương lai Võ Thị Như Mai sẽ có những tác phẩm thơ làm say đắm lay động tâm hồn người yêu thơ nhiều hơn nữa.


* Lê Ngọc Trác


Email: lengoctraclg@yahoo.com

More...

THƠ QUẢNG TRỊ - NHÌN TỪ CUỘC THI SÁNG TÁC VĂN HỌC 2010 - NCS Bùi Như Hải

By VÕ VĂN HOA

 

THƠ QUẢNG TRỊ - NHÌN TỪ CUỘC THI SÁNG TÁC VĂN HỌC 2010

                Hàng năm Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Trị tổ chức cuộc thi sáng tác văn học nhằm mục đích quảng bá giao lưu giữa các hội viên và động viên khích lệ hội viên sáng tác những tác phẩm văn học có giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật giúp chuyển tải những vấn đề về đời sống xã hội và con người Quảng Trị nói chung cả nước nói riêng trong bước chuyển mình hôm nay. Qua đó các cây bút cũng khẳng định được bút lực của mình trong sự nghiệp sáng tác văn học.

          Ngược nhìn từ những cuộc thi sáng tác văn học trước thì đợi thi năm 2010 có bước chuyển biến rõ rệt cả về số lượng lẫn chất lượng ở hầu hết các thể loại văn học. Trong đó thể loại thơ đã giặt hái được những thành quả đáng ghi nhận. Đây một trong những thể loại chiếm số lượng lớn về tác giả tác phẩm so với mọi năm trước. Về đội ngũ sáng tác quy tụ được rất nhiều nhà thơ thuộc nhiều thế hệ khác nhau từ thế hệ chống Mỹ như Xuân Đức Cao Hạnh Hoài Quang Phương Hoàng Tấn Trung Hồ Chư Hoài Nhạn… đến thế hệ sau 1975 như Võ Văn Hoa Trần Đình Thành Hoài Nhạn Võ Văn Luyến… Và cả thế hệ thời @ như Lê Như Tâm Phạm Minh Quốc… Họ có sự khác nhau về tuổi tác nghề nghiệp trình độ học vấn… nhưng lại có chung khát vọng sự đam mê và cần mẫn trên cách đồng nghệ thuật để tác tạo nên những thi phẩm có giá trị để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc yêu mến thi ca.

Nét đổi mới so với các cuộc thi trước là các nhà thơ đã khẳng định được khả năng tiếp cận khám phá nắm bắt hiện thực. Đặc biệt các nhà thơ có có sự tịnh tiến vào những tầng sâu mạch ngầm về văn hóa và cả những trăn trở những suy tư những khát vọng cá nhân… Chính sự nới rộng hiện thực dẫn đến sự phong phú đa dạng về đề tài chủ đề như đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đề tài quê hương đất nước đề tài chiến tranh đề tài hậu chiến đề tài đời tư thế sự đề tài tình yêu…

Không phải đến Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hay các cuộc thi viết về Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chi Minh thì hình tượng Bác Hồ mới được khắc họa mà trên lĩnh vực sáng tác thi ca thân thế và sự nghiệp cũng như trước tác của Người cũng đã trở thành một đề tài lớn trong nền văn học và ở nhiều ngành nghệ thuật khác. Trong hành trình sáng tác các nhà thơ luôn ước mong viết cho được một bài thơ về Bác Hồ và một số nhà thơ gần như cả cuộc đời sáng tác chỉ chú tâm xây dựng đề tài này như nhà thơ Minh Huệ là một dẫn dụ. Hòa tấu cùng mạch nguồn đó các nhà thơ Quảng Trị trong cuộc đời sáng tạo cũng viết về Bác Hồ kính yêu. Đến với cuộc thi năm 2010 các nhà thơ cũng tập trung sáng tác về hình tượng Bác Hồ một cách sinh động và đã làm cho hình tượng Hồ Chí Minh ngày càng đầy đặn hơn lung linh hơn có sức lây động trong lòng bạn đọc. Trong số những thi phẩm dự thi đáng chú ý là Hạt ánh sáng lên mầm của Hoài Quang Phương Lời nói Bác Hồ của Hồ Chư Chùm bồ kết Bác trao của Phạm Minh Quốc Ghi ở bản Mạy của Võ Văn Hoa… Nhà thơ Phan Văn Quang đã phác dựng hình tượng lãnh tụ trong tư thế hiên ngang bất khuất trước quân thù toát lên vẻ đẹp lẫm liệt kiêu dũng:

Ra đi chiến thắng quân thù

Âm vang lời Bác mùa Thu dựng cờ

                                                          (Âm vang lời Bác)

Quê hương – hai tiếng thân thương gần gũi luôn thường trực trong tim  Người mỗi lúc đi xa. Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước nơi xứ người nhưng tâm hồn của Bác luôn hòa mình cùng với non sông.

Bác nhớ Cửa Tùng Bến Hải Hiền Lương

Nhớ Núi Ngự sông Hương Thu Bồn Phan Thiết

Nhớ núi nhớ sông nhớ đồng thân thuộc

Lệ ứa tràn và tim Bác nhói đau

(Ước nguyện của Người)

 Và tim Bác luôn nhói đau bởi nhân dân đang chìm trong nô lệ cơ cực và từng ngôi làng ngõ xóm tan tát đìu hiu…

Người đi giữa phồn hoa nước Pháp

Đau đáu trong tim hình ảnh quê nhà

Từng phút từng giây thực dân giầy xéo

Đốt phá xóm làng giết hại trẻ thơ

(Viên gạch nhỏ trái tim hồng – Hoài Nhạn)

Bên cạnh đó các tác giả còn khắc họa hình ảnh của Bác thật là kính yêu và thân kính bởi ở sự giản dị chân mộc và thân thiện như vị cha già người anh và người đồng chí. Hình tượng ấy chính là sự kết tinh của hồn nước non và lý tưởng Cộng sản cao đẹp. Dẫu ra nước ngoài tiếp các phái đoàn Quốc tế nhưng Bác vẫn dung dị tao nhã trong phong cách mà tỏa sáng nét đẹp thanh cao:

 Bây giờ Người đã đi xa

Vườn Cau cây Khế nhạt nhòa niềm thương

Còn đây là tiếng quê hương

Chỏ xôi còn đó áo lương mâm đồng

                                                (Ghi ở bản Mạy – Võ Văn Hoa)

Nhân cách ấy mãi sáng soi và tiếp thêm ngọn lửa hồng cho thế hệ hôm nay và mai hậu vững bước đi trên con đường mà Người đã chọn:

Chúng con hôm nay và cháu chắt đời đời

Khắc mãi trong tim công ơn của Bác

Bác ơi! Trên mọi nẻo đường đất nước

Bác là miền tin là sức mạnh chúng con đi

                                       (Bác là niềm tin là sức mạnh – Văn Tuyên)

Mang di sản Bác Hồ làm hành trang bước tiếp

Bởi di chúc Người tỏa lan một năng lượng phi thường

                             (Vẫn hát theo nhịp tay Người – Dương Trọng Hòa)

 

Mảng viết về quê hương đất nước được các nhà thơ sáng tác với số lượng tác phẩm khá lớn chỉ sau đề tài Bác Hồ trong đó đáng chú ý là Quảng Trị quê mình của Nguyễn Văn Dùng Lịch sử cha ông đánh giặc ngoại xâm của Hoàng Tấn Trung Thăng Long những bước son hồng của Phan Đăng Quy Cao nguyên Khe Sanh của Hồ Chư…

Thăng Long - nơi hội tu những tinh hoa tinh túy của nền văn hóa Việt và là chốn Cố đô yêu dấu của một nghìn năm tuổi soi bóng dưới dòng sông Nhị đã được nhà thơ Phan Đăng Quy tạo tác qua ngôn ngữ nghệ thuật đầy sinh động với một cái nhìn khác lạ so với các nhà thơ đã viết về Thăng Long:

Thăng Long ngàn tuổi ta chiêm nghiệm

Chí khí trung thành với trái tim

(Thăng Long những bước son hồng )

Việt Nam là đất nước của chiến tranh và thiên tai. Sự thật đó đã được minh định trong suốt chiều dài lịch sử hành thành và phát triển của dân tộc.   Mỗi giai đoạn thời kỳ lịch sử điều in đậm hiện thực chiến tranh và khí thế hào hùng quật khởi của quân dân và được văn chương phản ánh một cách chân thực sinh động mà bài thơ Lịch sử cha ông đánh giặc ngoại xâm của Hoàng Tấn Trung là một minh chứng hùng hồn.

Hán Tống Nguyên Minh đều quét sạch

Mãn Thanh tháo chạy tiếp theo sau

Đinh Lý Trần Lê ngời sử Việt

Oanh liệt Tây Sơn đuổi giặc Tàu

Bài thơ khơi dậy lòng tự hào tự tôn của dân tộc với những phẩm chất vốn có và quý giá của con người Việt Nam là chí khí anh hùng bất khuất trước kẻ thù là trung thành giàu lòng nhân nghĩa với đất nước với nhân dân. Đó là tiếng nói ngân rung trong huyết quản của nhà thơ Hoàng Tấn Trung gửi đến thế hệ trẻ hôm nay hãy sống có lý tưởng có khát vọng và đặt lợi ích dân tộc quốc gia lên trên hết!                        

Quê hương Quảng Trị mảnh đất “thân thương hiền hòa giản dị” đã in dấu trên những trang thơ của các nhà thơ. Quê hương Quảng Trị sau chiến tranh đã bừng lên sức sống nội tại ngày càng đổi mới và giàu đẹp hơn:

Hai mươi năm Quảng trị hồi sinh

Tuổi đôi mươi căng tràn sức trẻ

Mơ ước lớn và tình yêu mới mẻ

Bình minh lên rạng rỡ mặt người

(Quảng Trị quê mình – Nguyễn Văn Dùng)

Lực hút về đề tài tình yêu không mạnh như các cuộc thi trước. Phải chăng xuất phát từ giới hạn về đề tài của cuộc thi chăng? Tuy nhiên trong số hơn một trăm thi phẩm dự thi ta vẫn nhặt được vài bài thơ tình khá hay như Khát của Hoài Nhạn Đông Hà trời trở gió của Lê Như Tâm Câu hát ngày xưa của Thùy Liên… Tình yêu – bên cạnh những niềm vui hạnh phúc những mất mát đau thương tan vỡ nỗi đau buồn sự trống vắng vô vọng và cả niềm khắc khoải chênh vênh cũng được các nhà thơ khai thác thể hiện phong phú và đa dạng ở nhiều góc độ khác nhau.

Thường thì nỗi buồn và sự cô đơn được thể hiện ở những mức độ khác nhau nhưng chúng ta cần khẳn định nỗi buồn trong tình yêu hay những vần thơ viết về nó điều tạo nên một sức hút kỳ lạ không gì cưỡng lại được. Chúng ta hãy đọc những dòng thơ trong bài thơ Đông Hà ngày trở gió của nhà thơ Lê Như Tâm viết về nuỗn buồn của sự chia li và nỗi đau mất mát trong tình yêu:

Em đi rồi Đông Hà ngày trở gió

Phía chân trời con nước chực tuôn rơi

Anh quy về đường xa hun hút

Chọn lối nào bước tiếp đỡ cô đơn

          Trong suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật Thùy Liên đã dành trọn vẹn thời gian và lực bút của mình cho thể loại bút ký – ghi chép và tạo được dấu ấn trong lòng bạn đọc. Dẫu rằng chị biết mình không có duyên với thi ca nhưng chị cũng mạnh dạn thử sức sáng tác thơ để dự thi. Trong số các tác phẩm dự thi  Câu hát ngày xưa là một bài thơ khá hay và được bạn đọc đón nhận. Bài thơ thể hiện được thiên tính nữa một cách rõ nét. Thùy Liên đã nói hộ cho phái nữ những khát khao những trăn trở những nỗi buồn trong sáng trong tình yêu… Phải chăng đó là những “tốc ký nội tâm” (Hêghen) của chị!

Câu hát ngày xưa giờ không biết có còn

Và người hát ở phương trời nào nhỉ ?

Trái tim tôi thuộc về câu hát khát

Còn lại âm thanh thổi thức trong lòng

Nỗi buồn nhuốm màu chia li xa cách về tình yêu thuở ban đầu của Thùy Liên. Dẫu tình yêu ấy không đến bến bờ hạnh phúc nhưng những kỷ niệm đẹp đã đi vào và ngự trị trong ký ức trong trái tim của người thơ.

          Cùng dòng chảy với Thùy Liên nhưng nhà thơ Hoài Nhạn lại mãnh liệt hơn cháy bỏng hơn rất nhiều trong tình yêu. Hình như trong bước đường đời chị luôn kiếm tìm và khát khao đợi chờ một tình yêu đích thực nhưng chị lại không có hạnh ngộ để đi hết cõi đời tình yêu. Sau những năm tháng chia li xa cách chị  gặp lại người xưa trong tâm trạng bùi ngùi tiếc nuối và khát thèm!

…Nắng cháy rát

Cây cối ngoắc ngoải chờ mưa

Như người yêu mỏii mắt đợi chờ

Phút gặp gỡ sau bao ngày xa cách

…Khát 

Có người từng nói “thơ hay là thơ có sức ám ảnh” vì thế qua cuộc thi năm 2010 chúng ta có quyền được vui mừng vì bạn đọc đã tìm được không ít thi phẩm giàu sức ám ảnh. Đó là sự thành công đáng ghi nhận so với các cuộc thi trước đó. Bước sang năm 2011 – thập niên thứ hai của thế kỷ XXI chúng ta hi vọng các nhà thơ Quảng Trị  vẫn tiếp tục dấn thân vào cuộc hành trình sáng tạo để có sự bứt phá tung tẩy trong phương thức biểu hiện như giọng điệu ngôn ngữ kết cấu.. Có những đường bay riêng trong việc tiếp cận hiện thực đào sâu vào thế giới tâm linh (vì mảnh đất Quảng Trị được mệnh danh là vùng đất linh thiêng mà) thế giới nội tâm để nâng tầm thi ca Quảng Trị lên một tầm cao mới bắt nhịp cùng với thi ca Việt Nam hiện đại. Có như vậy bạn đọc mới trở nên gần gũi hơn yêu mến hơn và gắn bó hơn cuộc sống và con người Quảng Trị.

                                                                                    BNH

* Ảnh trên (từ trái sang): Bùi Như Hải Trương Lan Anh Y Thi Võ Văn Hoa nhân ngày thơ Việt Nam tại TP Đông Hà 2011

More...

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ THƠ VÕ VĂN HOA - Trong tập thơ GIÓ CUỐI MẶT SÔNG - NXB Thuận Hóa- 2008

By VÕ VĂN HOA

 

 

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ THƠ VÕ VĂN HOA

  ■ ...Bài Gạo Ba trăng là một trong những bài tứ tuyệt hay của Võ Văn Hoa. Từ hạt gạo tác giả bộc lộ được suy nghĩ của riêng mình. Bốn câu thơ chắc mộc giản dị mà thấm thía:

Ăn gạo mòn răng mà chẳng biết

Hôm qua mạ nói : gạo ba trăng

Mới hay gạo cá thơm tình mạ

Trời đất! con quên cả chị Hằng

     Võ Văn Hoa khai thác đề tài ở nhiều góc độ khác nhau. Ngoài mảng thơ tình yêu thơ thế sự trong tập Gió cuối mặt sông Võ Văn Hoa còn có mảng thơ đậm nét về con người vùng đất Quảng Trị như: Tích Tường Quê mẹ Hải Lăng Gửi con gái ngoài Gio Linh Gặp ở Đông Hà Nước đã về trên cánh đồng Triệu Hải mẹ ơi...Từ những gì thu lượm được trong cuộc sống Võ Văn Hoa đã giãi bày tâm sự bằng thơ. Thơ Võ Văn Hoa có cảnh thực tình thực và đã có được những câu thơ mang được vẻ đẹp chất men say của ý nghĩ cảm xúc...

                                                Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu

                             (Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam)

 

■…Thơ “ký ức” là sự đậm nét của thơ Võ Văn Hoa. Viết thể loại này tùy thuộc vào tâm trạng của mỗi người. Nhưng viết hay và được độc giả cùng chia sẻ đồng tình đồng thuận không dễ dàng gì. Ở Võ Văn Hoa tôi đã thấy anh trải dài ký ức của vài chục năm lăn lộn với nghề với người…

Phùng Ngọc Diễn

(Truyện ngắn và Tản văn - NXB Văn hóa dân tộc – 2005 )

 

          ■ Đọc thơ của thi sĩ Võ Văn Hoa tôi đồ rằng thơ của anh được chắt lọc từ mạch nguồn làng Thi Ông nơi anh sinh ra và lớn lên với biết bao kỷ niệm của tuổi thơ.

          Võ Văn Hoa ra đi từ làng quê bên dòng Vĩnh Định đã “dời đô”để làm người của phố thị đã đi qua bao dặm dài đất nước rồi lại quay về nơi anh đã ra đi như không thể nào dứt được với khung trời kỷ niệm của tuổi hoa niên:

“Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên

  Có một người trong tim bão nổi

  Tôi đi ngược phía chiều gió thổi

   Cõi lòng ơi! Sao dứt thuở đi về !”

(Bão)

Hay có phút giây lòng anh thảng thốt:

     Dẫu đi trăm vạn nẻo đường

     Không quên bóng mẹ áo sờn vá vai

( Tháng giêng về Đồng Búng)

Không điệu đàng đánh bóng câu chữ không triết lý rối rắm đánh đố bạn đọc thơ Võ Văn Hoa cứ hồn nhiên tuôn chảy lắng sâu trong lòng bạn đọc với một chữ Tình: Tình yêu gia đình bạn hữu đồng nghiệp; tình yêu quê hương đất nước…

Từ tập thơ đầu tay ”Còn ta với mình”- NXB Thanh niên- 2004 Giải B giải sáng tạo VHNT Quảng Trị- 2004 đến tập “Gió cuối mặt sông”- NXB Thuận Hoá Võ Văn Hoa vẫn một mạch thơ đa mang cảm xúc trữ tình như thế.

Trương Đức Minh Tứ

(Phó Tổng Biên tập Báo Quảng Trị)

 

■ Thơ Võ Văn Hoa nhẹ nhàng đôn hậu như Hoa Dã thảo - Loại hoa mà anh yêu thích. Lăn lộn gắn bó với quê hương Quảng Trị  kiên cường bất khuất nhưng anh vẫn “nặng lòng với Huế” để nhớ về một thời hoa bướm mộng mơ.

                                Mai Văn Hoan

                   (Báo Thừa Thiên Huế số 232 trang thơ cuối tuần (24-27 tháng 6/2004)

 

■ “ Một sắc thái tình yêu khác của nhà thơ Võ Văn Hoa:

  Dòng sông Ô Lâu – Em đi về đâu ?

  Dòng sông Ô Lâu – không còn em - tôi đi về đâu ?

                                                (Tình ca Ô Lâu)

Hai câu thơ toàn thanh bằng hơi thơ mênh mang nhẹ như đôi cánh thơ bay trong bầu trời thất tình với sự phản chiếu của dòng Ô Lâu cô đơn lên nền trời vô định. Tình yêu của thi nhân ảo huyền xót xa vô vọng mà vẫn nuôi hi vọng”.

Nhà thơ Hoài Quang Phương

(Những câu thơ chín hái về - Tạp chí Cửa Việt số 148 (01-2007 )

 

    ■ “Mỗi gương mặt có nét thơ riêng song đều lớn mạnh trên bậc thang thời gian :..Thơ Võ Văn Luyến…nhẹ nhàng triết lý Võ Văn Hoa… trữ tình”

 

                (Nhìn lại 100 số CỬA VIỆT-Tạp chí Cửa Việt số 100 (01-2003))

 

          ■ “Hai nhà giáo hai anh em ruột làm thơ Võ Văn Hoa và Võ Văn Luyến có lẽ không còn quá xa lạ đối với bạn đọc. Võ Văn Hoa dường như tâm đắc với văn xuôi thể hiện được nhiều suy tưởng qua những trữ tình thế sự. Trong bài thơ “Tiên Điền” anh viết:

          Tế Hanh có “Bài học nhỏ về nhà thơ lớn” chuyện hôm nay có khác hơn. Trẻ em ở đầu làng đã đọc thuộc Kiều đương nhiên còn tận tường chỉ  cho tôi đường về mộ Nguyễn.

          Tiên Điền tôi qua  một lần thôi. Nhưng người giảng Kiều lâu năm trong tôi sẽ nhập thần hơn từ buổi sớm mai này”.

          Cũng vậy bài thơ văn xuôi “Vĩ thanh Thành Cổ” chan chứa tâm tình sử ký của một người dạy học và làm thơ:

          “ Những mảnh vụn phế hưng cuộc đời. Cậu học sinh tú tài và nỗi đau thế sự. Cả Thị xã máu trộn cùng vôi vữa trắng thời gian. Dòng Thạch Hãn như vết cắt nhói tràn đất mẹ.

          ...Giờ Thành Cổ hôm nay đã hồi sinh dáng phố và em đã là cô giáo. Bài giảng trực quan: Sau trước xung quanh. Dẫn các em đi trong lưu dấu Cổ Thành”.

                                                          Phạm Xuân Dũng

                                        (Báo Quảng Trị cuối tuần số 1542   ngày 11/01/2003)

More...

Làng khoa bảng “lò sinh quan” Bích La Đông: Không có chuyện “mặc áo gấm cho lịch sử”- Nguyễn Hoàn

By VÕ VĂN HOA

  * Tôi vừa đọc trên trang VĂN HÓA NGHỆ AN thấy mấy bài hay xin post lên gửi bạn bè. Đặc biệt có một vấn đề liên quan đến làng Tiến sĩ Bích La và nhà báo Nguyễn Hoàn lên tiếng!

Trang Web Tạp chí Văn hóa Nghệ An vừa qua đã đăng bài “Có làng tiến sĩ Bích La Đông không hay người đời đã mặc áo gấm cho lịch sử” của tác giả Khải Mông viết sau khi đọc phóng sự “Địa linh sinh nhân kiệt” của tác giả Ngọc Quang đăng trên báo An ninh Thủ đô ra ngày thứ bảy 30/01/2010. Tác giả Khải Mông đã chỉ ra một số thông tin không chính xác trong bài báo của Ngọc Quang cụ thể là thông tin về một số tiến sĩ ở làng Bích La Đông là không có thật. Điều đó là đúng và cho thấy tác giả Khải Mông đã tìm hiểu vấn đề khá kỹ. Tuy nhiên nếu Khải Mông chỉ dừng lại ở đấy nói như các bậc thánh hiền là “tri chỉ” (biết điểm dừng) thì hay biết mấy. Rất tiếc thay vì chỉ cần phê bình Ngọc Quang viết không chính xác Khải Mông lại “phóng bút” quá đà và cũng mắc vào cái sai là viết không chính xác như Ngọc Quang. Cụ thể Khải Mông đã sai khi phủ nhận hay hoài nghi sự có thật của tiến sĩ Hán học của nhân vật lịch sử người Bích La Đông. Thậm chí Khải Mông lại còn có những lời lẽ đụng chạm đến danh dự của một làng Việt nổi tiếng nếu không nói là xúc phạm.

Vì xuất phát điểm vấn đề Khải Mông nêu là từ… bài báo của Ngọc Quang nên hãy bắt đầu vấn đề chính từ bài báo đó. Cần nói ngay rằng bài báo của Ngọc Quang có chỗ thông tin sai nhưng Ngọc Quang không hề dùng đến cụm từ “làng tiến sĩ Bích La Đông” như Khải Mông đã nêu và đưa vào làm thành tít bài viết của mình. Viết về làng Bích La Đông Ngọc Quang đã dùng đến một thành ngữ hết sức chính xác là “địa linh sinh nhân kiệt”. Xin nói thêm là ngoài danh tiếng “địa linh sinh nhân kiệt” người đời hằng truyền tụng và vinh danh làng Bích La Đông là “lò sinh quan nôi sinh sĩ tử”. Sách “Ô châu cận lục” của Dương Văn An đã khẳng định: “Hoa La nổi tiếng văn chương” (1). Đó là sự xưng tụng đã được truyền đời qua thời gian và được lịch sử thừa nhận mà Khải Mông nếu có thành tâm với văn hóa làng nói chung văn hóa làng Bích La Đông nói riêng sẽ “rất lấy làm thích thú” như chính Khải Mông đã viết. Vậy thì đâu có chỗ cho Khải Mông nêu nghi vấn “hay người đời đã mặc áo gấm cho lịch sử?”.   

Hoàn toàn không có chuyện “mặc áo gấm cho lịch sử” ở đây khi sử sách đã nêu rõ tên tuổi và hành trạng của các vị khoa bảng quan lại người Bích La Đông. Sau đây là danh sách các vị khoa bảng làng Bích La Đông được tổng hợp từ cuốn sách: “Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Namcủa Bùi Hạnh Cẩn Minh Nghĩa Việt Anhbiên soạn NXB Văn hóa-Thông tin Hà Nội 2002:

       “- Lê Hữu Hằng: Thi Hương khoa Tân Sửu Thiệu Trị thứ 1 (1841) tại trường Thừa Thiên. Làm quan tới chức Tuần phủ Hộ lý Tổng đốc Hải Yên. Lãnh Thượng thư Bộ Công.

          - Lê Bá Nghị: Thi Hương khoa Canh Tuất Tự Đức thứ 3 (1850) tại trường Thừa Thiên. Làm quan tới chức Giáo thụ.

          - Lê Thụy: Thi Hương khoa Mậu Thìn Tự Đức thứ 21 (1868) tại trường Thừa Thiên. Đậu Tiến sĩ khoa Ất Hợi Tự Đức thứ 28 (1875) năm 34 tuổi. Làm Tuần phủ Thanh Hóa sau về kinh giữ chức Tham tri Bộ Hình.

          - Lê Đăng Lĩnh: Sau đổi tên là Lê Đăng Trinh. Thi Hương khoa Canh Ngọ Tự Đức thứ 23 (1870) tại trường Thừa Thiên. Đậu Phó bảng khoa Ất Hợi Tự Đức thứ 28 (1875) năm 26 tuổi. Làm tới chức Tham tri Bộ Binh sung Quản lính thị vệ.

          - Lê Hữu Tính: Thi Hương khoa Kỷ Mão Tự Đức thứ 32 (1879) tại trường Thừa Thiên. Làm Trước tác lãnh Bang tá tỉnh vụ Quảng Trị.

- Lê Cảnh: Thi Hương khoa Quý Mão Thành Thái thứ 15 (1903) tại trường Thừa Thiên. Đậu Cử nhân năm 23 tuổi. Làm Hành tẩu Bộ Học” (2).

Trong danh sách trên đây có tên của tiến sĩ Lê Thụy (tức Lê Bá Thoại) có ghi rõ năm đỗ đạt. Vậy mà Khải Mông lại viết một cách vội vàng thiếu căn cứ: “… xin nói về “Tham tri Lê Bá Thoại đỗ tiến sĩ dưới thời nhà Nguyễn giữ đến chức Thượng thư Bộ hình”. Tham tri là chức quan to tương đương hàm Thứ trưởng Thường trực hiện nay lại đỗ Tiến sĩ - tuy có không rõ ràng vào năm nào triều Nguyễn nhưng trong “Các nhà khoa bảng Việt Nam” cũng không thấy có tên… Nhưng việc các vị Tiến sĩ khoa bảng Hán học như thông tin các bài báo đưa trên đây theo thiển nghĩ của người viết bài này cần phải kiểm chứng lại”. Ở đây rõ ràng chính người phải tự kiểm chứng là tác giả Khải Mông vậy. Có một điểm cần được nhấn mạnh là làng Bích La Đông không những có tiến sĩ Hán học và nhiều tiến sĩ khác trong thế kỷ XX (về các tiến sĩ thời nay của làng Bích La Đông Khải Mông đã nắm rõ) đặc biệt làng còn lập miếu thờ tiến sĩ hẳn hoi. Tại đình làng Bích La Đông có 2 ngôi miếu thờ tiến sĩ một miếu ghi thờ: “Tiến sĩ cảnh phiến bá linh hựu tôn thần” một miếu ghi thờ: “Tiến sĩ cảnh diệu bá diệu ứng tôn thần”. Điều này chứng tỏ làng Bích La Đông vốn có truyền thống quý trọng hiền tài từ xa xưa phải nói rằng truyền thống này đã hun đúc nên “lò sinh quan nôi sinh sĩ tử” Bích La Đông. Truyền thống khoa bảng của làng Bích La Đông còn “ăn sâu” vào các thế hệ kế tục của một số gia đình. Cuốn “Quốc triều hương khoa lục” của Cao Xuân Dục NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1993 đã dẫn ra các trường hợp cha con cùng thi đỗ khoa bảng Hán học đó là trường hợp ông Lê Hữu Hằng (tức Lê Hữu Thường) và con là Lê Hữu Tính ông Lê Đăng Trinh và con là Lê Cảnh.

Từ chuyện khoa bảng xin được nói sang chuyện “vượt ngoài khoa bảng”. Ai cũng biết đỗ đạt khoa bảng là điều không dễ có nhưng khoa bảng chỉ mới là điều kiện cần tài năng đức độ sự nghiệp công danh mới là điều kiện đủ để đánh giá vai trò đích thực của trí thức kẻ sĩ. Với những “bậc ngoại hạng” thì sự nghiệp không chỉ phụ thuộc vào những tấm bằng. Làng Bích La Đông có những nhân vật “vượt ngoài khoa bảng” có những “bậc ngoại hạng” như vậy.

Trước tiên xin nêu trường hợp ông Lê Đăng Doanh mà Khải Mông đọc chưa đủ sử sách đề cập về ông nhưng đã vội cho là “chuyện không thể xảy ra”. Khải Mông viết: “Xin bàn tiếp đến “ông Lê Đăng Doanh tự là Lê Văn Doanh người Bích La làm quan dưới thời Gia Long là người văn võ song toàn đã từng được thăng Hiệp Biện Đại học sĩ dưới triều Thiệu Trị thứ nhất (1481)”. Có lẽ chính xác thì phải là năm 1841 vì năm 1481 là niên hiệu Hồng Đức thứ 12 đời Lê Thánh Tông. Ông Lê Đăng Doanh lại “có công dạy bốn đời Vua”. Các tác giả đều không nói được ông Lê Đăng Doanh đã dạy dỗ những đời vua nào? Và tuy không rõ năm mất nhưng việc một quan đại thần sống từ đời vua Gia Long dạy 4 đời vua sau đó là chuyện không thể xảy ra. Vì nếu tính 4 đời vua từ Gia Long (1802-1820) Minh Mạng (1820-1841) Thiệu Trị (1841-1847) đến đời Tự Đức (1848-1883) nghĩa là trên 80 năm!”. Thực tế hành trạng và sự nghiệp của ông Lê Đăng Doanh đã được nhiều sử sách triều Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên Đại Nam chính biên liệt truyện chép rất rõ và rất kỹ theo lối biên niên. Qua các bộ sách này cho thấy ông Lê Đăng Doanh đã góp phần tích cực vào việc xây nền khoa bảng. Ông từng được sung đọc quyển tại kỳ thi điện năm Minh Mạng thứ 7 (1826) làm chủ khảo khoa thi hương năm Minh Mạng thứ 9 (1828) tại trường Thanh Hóa (trường này lấy đỗ 11 người) phó chủ khảo khoa thi hội và sung đọc quyển thi điện năm Minh Mạng thứ 10 (1829) chủ khảo thi hương năm Minh Mạng thứ 12 (1831) tại trường Thừa Thiên (trường này lấy đỗ 12 người) chánh chủ khảo khoa thi hội năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Ông Lê Đăng Doanh làm quan trải các triều Gia Long Minh Mạng Thiệu Trị và Tự Đức từng làm Thượng thư Bộ Lại Bộ Binh Bộ Công có lúc kiêm lĩnh cả Bộ Hình. Ông mất năm 1848 tức năm Tự Đức thứ nhất. Về chuyện ông Lê Đăng Doanh dạy vua lúc thiếu thời lúc còn là hoàng tử dạy những đời nào nhiều bộ sách triều Nguyễn đã đề cập rõ ràng. Đại Nam thực lục chính biên tập V đoạn viết về năm Minh Mạng thứ 2 (1821) cho biết: “Vua nghĩ ngày trước Lê Đăng Doanh có công phụ đạo (giúp đỡ việc học của thái tử - chú thích của người dịch) cho tiền ưu dưỡng” (3). Đại Nam chính biên liệt truyệt ở quyển 16 “Truyện các quan” đã viết về Lê Đăng Doanh như sau: “Thiệu Trị năm thứ 1 (1841) thự hiệp biện đại học sĩ lĩnh thượng thư bộ Lại kiêm sung chức sư bảo của hoàng tử hoàng đệ. Vua dụ rằng: Người nay kiêm lĩnh chức sư bảo nên dỗ dạy rèn đúc thế nào khiến cho đều nên tài đức để xứng ý của trẫm bắt buộc làm cho thành hiệu. Còn việc tầm thường ở bộ đã có chức Á khanh chia giữ người chỉ đi lại kiêm coi tóm lấy đại cương thôi” (4). Ngoài việc làm “sư bảo” của hoàng tử hoàng đệ một việc chứng tỏ ông Lê Đăng Doanh được nhiều đời vua tin dùng một cách đặc biệt như vua Minh Mạng đã từng bảo rằng: Trách nhiệm dạy bảo trông nom thực khó được người… Duy có Lê Đăng Doanh làhộ phủ Quảng Trị năm trước từng dạy trẫm học có thể đương được chức ấy” (5) ông còn được giao cho làm những công việc quan trọng  khác như: được vua Minh Mạng chọn làm toản tu soạn sách “Liệt thánh thực lục” giao đi đánh quân Xiêm lấn cướp miền biên giới giao trông coi xây dựng điện Thái Hòa cửa Đại cung và cửa Ngọ môn giao thực hiện chống tham nhũng (xử lý vụ Vũ Thế Trường Án sát tỉnh Bình Định dung túng người nhà ăn hối lộ hơn 100 lạng bạc) vua Thiệu Trị giao làm tổng lý duyệt binh đại thần đối với biền binh 5 tỉnh lớn ở Bắc Kỳ… Khi ông mất vua Tự Đức đã “chuẩn cho truy tặng hàm chức thiếu sư hàm Văn minh điệnđại học sĩ cho tên thuỵ là Văn Nhã chiếu phẩm cấp tiền tuất lại cho thêm khá hậu (gấm màu 4 cây sa hoa 6 cây vải lụa đều 25 tấm tiền 2000 quan) sai quan đến tế ban cho rượu. Lê Đăng Doanh làm quan trải 4 triều tuổi cao đức thịnh từng sung chức dạy vua học giúp ích rất nhiều cho nên vua ưu đãi” (6). Khi ông mất đã lâu vua Tự Đức vẫn nhớ nghĩ và tri ân công đức của ông: “Năm thứ 22 tiết tứ tuần đại khánh của Dực tông Anh hoàng đế. Vua lại nhớ đến bề tôi cũ ở chỗ màn sa đỏ (là chỗ giảng dạy) cho tế ở nhà” (7).

Ngoài chuyện Thượng thư Lê Đăng Doanh sử sách triều Nguyễn còn ghi chép về hành trạng của các vị Thượng thư khác người Bích La Đông là Lê Hữu Thường Lê Đăng Trinh của vị quan võ Lê Mậu Cúc. Thượng thư Lê Đăng Trinh (còn có tên là Lê Đăng Lĩnh Lê Trinh) đã được nhà Nguyễn giao trọng trách Phụ chính đại thần đã có hai đóng góp sáng giá trong lịch sử đó là tôn vua Duy Tân lên ngôi và xử cho Phan Châu Trinh thoát khỏi án “trảm quyết” (chém ngay) của thực dân Pháp. Dù Khâm sứ Trung Kỳ Lévecque cố ép Phủ Phụ chính lúc đó xử “trảm quyết” Phan Châu Trinh “nhưng nhờ lương tri và dũng khí của các thượng thư nổi bật nhất là hai cụ Cao Xuân Dục và Lê Trinh đã dám lên tiếng cãi lại Lévecque với sự đồng tình của toàn Phủ Phụ chính(8) Phủ Phụ chính trong đó có Thượng thư Lê Trinh vẫn xử Phan Châu Trinh với mức án nhẹ hơn là trảm giam hậu (chém nhưng giam lại) và đày chung thân cấm cố nhằm cứu mạng sống cho nhà yêu nước.Nhờ vậy mà Phan Châu Trinh thoát chết và tiếp tục hoạt động cống hiến cho sự nghiệp duy tân cứu nước. Rõ ràng hai đóng góp sáng giá nêu trên của Phụ chính đại thần Thượng thư Lê Trinh đã nâng tầm vóc của ông vượt cao hơn khoa bảng của chính ông.

Sang thời hiện đại làng Bích La Đông đã sản sinh ra những con người “ngoại hạng” với tên tuổi lừng lẫy không chỉ trong nước mà cả thế giới như Lê Duẩn Lê Bá Đảng.Trong những năm miền Nam còn chìm trong đen tối đồng chí Lê Duẩn đã sớm khởi thảo “Đề cương cách mạng miền Nam” tạo căn cứ quan trọng để Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15 về đường lối cách mạng miền Nam. Vì lẽ đó đồng chí đã được trí thức cán bộ Nam Bộ gọi là “Ngọn đèn 200 nến” Năm 1989 danh họa Lê Bá Đảng được Viện Quốc tế Saint-Louis của Mỹ tặng giải thưởng “Nghệ sĩ có tài năng lớn và tư tưởng nhân đạo” năm 1992 được Trung tâm tiểu sử quốc tế thuộc Đại học Tổng hợp Cambridge của Anh đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới năm 1994 được Pháp tặng “Huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp” năm 2005 được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt do báo điện tử Vietnamnet phối hợp với UBMTTQ Việt Nam trao tặng. Với Lê Bá Đảng mỹ thuật thế giới chứng kiến một lối vẽ độc đáo mới: vẽ không gian tạo nên “không gian Lê Bá Đảng” (lebadang space) với chất liệu đặc biệt khiến cho tác phẩm của ông không chỉ là tranh mà còn là điêu khắc là chạm trỗ theo cách riêng của ông gọi là mỹ thuật Lê Bá Đảng.

Viết về một làng Việt cổ lại là làng Việt cổ trứ danh như làng Bích La Đông với truyền thống khoa bảng trọng hiền tài với những nhân vật lịch sử nhân vật văn hóa tầm cỡ như vậy người viết càng cần phải tìm hiểu hết sức công phu và thận trọng. Thay vì chỉ nên phê bình bài báo viết sai là đủ Khải Mông lại cũng viết sai viết thiếu căn cứ và có những lời lẽ đụng chạm đến những giá trị hằng cửu của làng Bích La Đông. Khi viết Khải Mông chỉ dựa vào có mỗi cuốn sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam” không đọc rộng ra các sách khác mà đã vội kết luận vấn đề là không đầy đủ không khoa học phiến diện và khó tránh khỏi sai lầm (cũng không rõ cuốn sách này có được Khải Mông đọc kỹ không nếu sách này viết đầy đủ trong sách phải có tên tiến sĩ Lê Thụy tức Lê Bá Thoại người Bích La Đông). Mặt khác người đọc sách ít ai là không thuộc nằm lòng câu của Mạnh Tử: “Tận tín thư bất như vô thưnghĩa là “đọc sách mà tin sách đến cùng thì không bằng không đọc sách” huống hồ là chỉ đọc có ít sách chứ không đọc rộng ra nhiều sách để rộng đường tra cứu luận bàn xác đáng tránh sa vào vu khoát lộng ngôn. Đó là chuyện đọc còn chuyện viết việc viết phải xuất phát từ ý hay và triển khai ra bằng lời đẹp. Nhà Phật có dạy phải gìn giữ “thân khẩu ý” cho tốt vậy đối với người viết phải hết sức thành tâm và thiện ý đối với những vấn đề mình viết ra đừng để mắc vào những nghiệp xấu về “ý nghiệp khẩu nghiệp”. Khải Mông có nói đến việc viết sao cho đừng sai về tư tưởng lẫn tư liệu mà gây tai vạ cho gỗ lê gỗ táo những loại gỗ dùng để khắc bản in ngày xưa. Hai bài viết của Ngọc Quang và Khải Mông giống nhau ở chỗ là cùng sai về tư liệu. Riêng bài viết của Khải Mông không chỉ sai về mặt tư liệu mà còn có những suy diễn kết luận thiếu căn cứ vậy ai phải trừ họa cho “lê táo” đây? Nhân chuyện “lê táo” cần khẳng định rằng với làng Bích La Đông lịch sử và con người mảnh đất này không chỉ đã từng làm thơm lây cho các bản in lê táo mà điều quan trọng là đã được soi chiếu với sử xanh như trong câu thơ của Văn Thiên Tường: “Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (Hãy để lòng son chiếu sử xanh). Chính với tấm lòng son đó của người Bích La Đông tấm lòng trung quân ái quốc của các vị khoa bảng quan lại thời xưa tấm lòng tỏa sáng như “Ngọn đèn 200 nến” của Tổng Bí thư Lê Duẩn tấm lòng quý trọng hiền tài nuôi dưỡng và vun bồi các giá trị văn hóa lâu bền trường cửu mà đất này đã được rạng danh là làng Việt nổi tiếng như câu đối trước đình làng Bích La Đông đã khắc tạc: “Địa chung linh khí truyền thiên cổ thế xuất anh tài diễn ức niên” (Đất này chung đúc linh khí truyền từ nghìn xưa đời sinh ra anh tài thời nào cũng có).

…………………………………………..

       (1) Dương Văn An Ô châu cận lục Văn Thanh-Phan Đăng dịch và chú giải NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2009 tr. 65.

       (2) Bùi Hạnh Cẩn Minh Nghĩa Việt Anh (biên soạn) Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Nam NXB Văn hóa-Thông tin Hà Nội 2002 tr. 278 302 326 295 331 250. 

       (3) Đại Nam thực lục chính biên tập V NXB Khoa học Hà Nội 1963 tr. 191.

       (4) Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập Quyển đầu - Quyển 25) Viện Khoa học xã hội Việt Nam Viện Sử học NXB Thuận Hóa Huế 1993 tr. 290.

       (5) Đại Nam thực lục chính biên tập XIX NXB Khoa học Hà Nội 1968 tr. 273 274.

       (6) Đại Nam thực lục chính biên tập XXVII NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1973 tr. 78. 

       (7) Đại Nam chính biên liệt truyện Sđd tr. 291. 

       (8) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới quyển 2 tập 1 NXB Đà Nẵng 2001 tr. 8.

More...

TÌM SỰ “BẤT NGỜ” TRONG THƠ BÀNH THANH BẦN - Vũ Xuân Hoát

By VÕ VĂN HOA

 

 

 * Một ngày đầu xuân năm nay trên đường đi Bến Quan Vĩnh Linh chúng tôi a lô gặp nhà thơ Trần Bình. Bỏ việc ngoài lô cao su về tiếp đón bạn bè. Đàm luận thơ văn vui vẻ. Ra về gia chủ gửi tặng anh em một số tác phẩm trong đó có tập thơ BẤT NGỜ của nhà thơ Bành Thanh Bần- Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội - Việt Nam. Mới đây nhân người bạn thơ vong niên của tôi- nhà thơ Linh Đàn- từ TP HCM về quê mời ra Gio Linh gặp mặt và cuộc vui kéo dài khi Võ sư Nguyễn Xuân Hòa có tâm hồn văn chương mời về nhà tiếp tục chiến đấu. Tại đây sau khi nhận CD AUDIO THƠ BÀNH THANH BẦN TRONG CÁC BÀI CA - qua chủ nhân trang blog Tiếng đàn Ta lư tôi có cuộc điện đàm . Thật là bất ngờ trong " Bất ngờ". Và "tìm sự " Bất ngờ" trong thơ Bành Thanh Bần sáng nay lại bất ngờ nhận được mail của anh. Cảm ơn anh nhiều!  Mời bạn bè cùng nhập cuộc thơ giám đốc một khu du lịch sinh thái khá nổi tiếng ở miền Bắc này !( VVH)

TÌM SỰ “BẤT NGỜ” TRONG THƠ BÀNH THANH BẦN

 Vũ Xuân Hoát

 

 

Người và thơ song hành. Vẻ đẹp trời ban quyện tư tưởng sâu đằm - đánh thức những gì ngỡ đã lãng quên bùng phát dậy. Nghe đâu đó quanh ta hơi thở của cuộc sống tràn nhịp đập phà vào thơ hóa tình yêu:

Anh chưa mất gì dù nhỏ nhất trên đời

Sau khi gặp em trái tim anh “mất”.

(Với em)

Đi từ không đến có. Trí tưởng tượng ở một nơi nào thắp lên niềm đam mê như thể sang Giêng Tha thẩn chợ Viềng. Ngập giữa biển người cầu may tìm cho mình muốn giải mã sự tình sau một năm qua. Trước cửa thiền:

Lễ xong

Ra đến cửa đền

Nhấp nhô sóng lễ bơi trên sóng người

Thoáng thôi không gian ắp đầy. Vậy mà không phải vậy:

Ngực em chạm phải ngực tôi

Để mâm lễ cứ chơi vơi trên đầu.

Thơ gợi mở cái điều mới quen kia giữa chốn đông đúc. Vần lục bát có thể hát lên bằng giọng chầu văn giàu ngân cảm si tình đến như:

Sân đền mưa lất phất rơi

Tôi đứng đến nhọ mặt người

Đợi em…

(Tha thẩn chợ Viềng)

Chỉ có thơ đủ kiên nhẫn “đội lễ” chờ đợi nỗi nhớ tàn đêm mà thốt gọi “Đâu rồi”?

Đầu rồi? nụ cười đi tìm…

Chàng thơ cúi nhặt vàng rơi và bắt được tứ thơ thành duyên phận này chàng?

Giàu suy tư trong liên kết các trạng huống. Nghĩ về việc đời thật bất thường biến động. Bài thơ “Trọc đầu càng mát” - nhà thơ nhấn nỗi ám ảnh.

Ồ lạ quá! Khi đầu không còn tóc

Trông con tôi lại cứng cỏi hơn nhiều.

Vì sao vậy? Nhờ câu tiền nhân gieo quẻ. Người đời giờ tự dăn mình:

Viết tặng con lời tiền nhân thuở trước

Giữa dòng đời đầy rẫy bon chen.

(Trọc đầu càng mát)

Thơ Bành Thanh Bần khai thác triệt để vốn sống từng trải nghiệm. Ông luôn mở về phía trước hướng một lối đi. Qua những cảnh vật trữ tình chốn Tiên Sa núi Tản. Truyền thuyết được thơ khơi sáng:

Khăn choàng tiên nữ đánh rơi

Thành mây núi Tản muôn đời vẫn bay.

Sức mời gọi ai chưa một lần đặt chân tới đây qua thơ chắc hẳn muốn bay lên cùng tiên nữ choàng khăn mây núi muôn xanh… Hay hơn cả là sự quảng bá cho khu sinh thái quyến rũ mộng ảo này.

Quên sao được thời chinh chiến loạn lạc. Thời nhà thơ Bành Thanh Bần ghi lại mối tình của mình trong bom đạn ly tán:

Mỗi tháng một lần

Cuốc bộ về thăm

Được chốc lát

Em lại đưa anh vào đơn vị

Khi cả nước sục sôi đánh Mỹ

Cánh sóng anh canh giữ đất trời.

(Vào giờ này em ở đâu)

Dung dị cảm động tự hào về tình yêu một thời bền chặt. Lo cho nhau vì nhau không mặc cả về số phận riêng tư. Thơ đẹp như con đường lắm ổ gà.

Tối bưng đêm. Dĩ nhiên là xa xóc… Cái tín hiệu báo yên hóa mây trắng xứ Đoài.

Tự nơi này thơ Bành Thanh Bần cất cánh sải rộng trên khung trời nhuần phác. Những câu thơ ngắt nhịp trầm ấm gửi đi. Lạ. Gọn. Tựa bức tranh không lời:

Ngoài này

Hà Nội vẫn mưa

Trong em - Huế

Bão tạnh chưa hay còn?

Hoặc:

Tràng Tiền

Cong nét mi cong

Nhớ anh đừng chớp

Kẻo giông bão về.

(Hà Nội vẫn mưa)

Ai đó đọc xong bài thơ đã reo lên: Thơ tình thế mới sướng! Sự hoán vị so sánh. Mà chắc chỉ có thơ mới lột tả nổi. Đường trần và áo tím thả hoàng hôn…? Đậm chất Huế đó sao!

Đi đến đâu ở đấy có đời sống của thơ. Thơ xuất hiện mang vẻ tâm linh - thời ta đang sống. Được và mất ẩn chứa trong mỗi con người. Những trái oan cùng chức quyền danh lợi. Thơ tịnh tâm hướng con người về với tự nhiên. Lòng nhân ái tính bản thiện.

Gã cầu Chư Phật “chứng” rồi!

Bất nhang bỗng hóa bời bời lửa hoa!

(Thi nhân trẩy hội chùa Hương)

Nghiêng mình sẻ chia giữa thời cuộc buốt nhói động đến chúng sinh nơi của Phật. Xin hỏi và xin hỏi. Trả lời và và không trả lời. Người hay chính mình đến chốn ăn mày cửa Phật:

Tôi đến ăn mày cửa Phật

Bạn đến ăn mày tôi

Những mảnh đời cơ nhỡ

Ngửa tay xin “lộc” người.

Bao nhiêu chuyện đời biến diễn phức hợp được bài thơ tổng kết giàu hiện thực khái quát cao. Buồn đau không che đậy trong từng giọt lệ rơi… vụt dậy:

Mầm thơ đang đâm chồi.

Mơ về xứ Huế thường trực trong con người thơ Bành Thanh Bần. Tinh nhậy không ngờ. Thông qua một bài thơ một tấm ảnh chân dung ông có ngay bốn câu thơ nhuần nhuyễn:

§õng: “ ­íc m×nh lµ mü nh©n ngµy Êy”

Em trong ¶nh ®· lµ mü nh©n råi

Tay ngäc vin hoa m¾t ®en lay l¸y

Vµ nô c­êi ®· híp c¶ hån t«i.

(Gửi về xứ Huế)

 

 Cùng theo dòng cảm xúc ấy nhà thơ có bài “Quà Huế” như đã từng là người Huế viết về Huế vậy. Yêu Huế thế nào mới có thể:

"Nhận quà Huế dạ cảm hoài
Ai vì nhớ Huế cho ai tặng quà
...............
Ta người bị đắm thứ bao nhiêu rồi?

Vì sao? Chắc Huế biết rồi

Ai tặng? Huế nỏ biết người đó mô.

(Quà Huế)   

Những vùng đất vùng trời qua hồn thơ - “Bất ngờ” ta được chứng giám tình thi nhân:

Người xưa

Đau đáu nỗi gì

mà khắc vào đá

mà ghi giữa đời?

Nào đâu những hè về lá rụng sắc xuân. Nếu như cõi mộng trần gian biến hoá trong cảnh sắc hữu tình đắm say những vần thơ ghi tạc:

Thì từ “Trọc đầu càng mát” đến “Ông và cháu” là hai thái cực trên một dòng triết luận chẳng bao giờ nguôi yên về thân số con người. Ngược chiều nhau phân chia ranh giới nào ai ngờ được sự vô cảm của nó:

"Bạn vui- nó cũng chẳng cười
Bạn ngã -nó cũng bỏ mặc
Học mãi vẫn chưa biết đọc
Chỉ mải trèo cây bẻ hoa

Chẳng được như con người ta
Đi giầy biết phân phải trái
Đằng này toàn đi ngược lại
Mắng mãi có chừa được đâu
Häc m·i vÉn ch­a biÕt ®äc

          Bài thơ hàm chứa nội dung sâu sắc nỗi lo lớn đến chừng nao? Đau đời giằng xé nỗi riêng chung. Thơ như một liều thuốc tiên. Chuyện đời chuyện tình đan xen tạo thành nét đặc thù cho thơ Bành Thanh Bần. Mỗi bài mang một ẩn ý khác nhau…

Hồ Tiên Sa - một địa chỉ một cảnh sắc thần tiên chiếm ưu thế trong tập thơ bởi nơi ấy là cõi lòng ông môi trường sinh kế của ông ông tạo dựng nên cơ nghiệp… Những thi cảm trỗi dậy cũng từ đây. Bắt nhịp hơi thở nồng ấm của cuộc sống. Ông thẩn thờ trước một sáng tác nào đấy dội vào hồn ông khiến thơ ông đột phá. Huế - Hà Nội - Hồ Tiên Sa – Sa Pa… Tất thảy hàng loạt những bài thơ ghi dấu ấn bước chân đến và đi rồi chiêm nghiệm đặng đúc rút lẽ đời qua thơ. Như “Tương tư” ai:

§ªm ®ªm

Ngåi ng¾m ¶nh em

Ngì Tõ - Thøc l¹c §éng Tiªn thuë nµo!

Lêi x­a: “S¾c bÊt ba ®µo...”*

Ta -  ng­êi bÞ ®¾m thø bao nhiªu råi?

 

Mê đắm cái đẹp. Thơ viết về người phấn đấu cho vẻ đẹp hoàn mỹ của con người. Thi sỹ tái tạo những gì ngỡ đã lãng quên. Tìm sự “Bất ngờ” trong thơ Bành Thanh Bần dẫn ta về với núi Tản Viên phập phờ mây trắng. Bài thơ tình ngắn xúc tích gợi. Hồn nhiên nói về thơ mình tựa những hồi ức thức dậy. Phải chi tìm sự bất ngờ đâu xa ở ngay chính mảnh đất chốn tiên về đấy thôi!

BÊt ngê

nµng ng· vµo t«i

BÊt ngê

ng· mét nô c­êi vµo m©y

BÊt ngê

m©y ng· trªn tay

Tãc nµng ®æ xuèng

ng· ®Çy vai t«i

BÊt ngê

M©y giÊu lµn m«i

BÊt ngê giã

§Ó cho t«i s÷ng sê!

                     (Bất ngờ trên Tản Viên Sơn)

                                                                             VXH

 

 

 Đọc thêm : Bành Thanh Bần người làm thơ giàu có ( Tiềnphong Online)

 http://www.tienphong.vn/van-hoa/520240/banh-thanh-ban-nguoi-lam-tho-giau-co.html

  Ảnh trong bài: Trần Bình

More...

Một câu hỏi : BA BÀI THƠ VÀ 2 TÁC GIẢ - HOÀNG GIANG

By VÕ VĂN HOA

 

*HOÀNG GIANG vừa gửi đến Gác Tri Âm về một phát hiện ...và tôi chẳng biết ai là ai? Bạn đối sánh nhé!


                      BA BÀI THƠ VÀ 2 TÁC GIẢ

 

NGUYỄN THỊ NGỌC HÒA

 

NGÀY XƯA

 

          Quẳng giùm cái tuổi 60

          Để tôi sống lại cái thời ngày xưa

          Cái thời bím tóc đung đưa

          Bao chàng trai cứ cù cưa theo mình

          Dẫu rằng không hát trúc xinh

          Mà ai vẫn đứng sân đình đợi ai !        

          Cái thời tóc xỏa đầy vai

          Gót son nhí nhảnh để ai bận lòng

          Đường gần vẫn cứ đi vòng

          Rủ nhau đến lớp phượng hồng sớm trưa

 

                

         

          Bao giờ cho đến ngày xưa

          Để cho người ấy đón đưa tôi về

          Cơn mưa bất chợt mùa hè

          Đan thành kỷ niệm chở che hai người.

          Tháng ngày cứ thế dần trôi

          Tình tôi cứ lớn bên người hồn nhiên !

          Biết đâu là nợ là duyên

          Nào ai đã dám  thề nguyền gì đâu!...

          Vậy mà lại dở dang nhau

          Để heo may thổi bạc đầu mùa thu.

          Người về ôm kỷ niệm xưa

          Lục bình ai thả bơ vơ giữa dòng

          Thế rồi chết một mùa đông

          Tôi đi lấy chồng người ấy ngẩn ngơ

          Bao giờ cho đến ngày xưa !...

 

           Nguyễn Thị Ngọc Hòa

- Thơ tình lục bát – NXB Đà Nẵng 2010 - Trang 50-51

 

Ba bài thơ 2 tác giả- Đồng tác giả hay sao chép của nhau. Đề nghị 2 tác giả và công chúng văn học các cơ quan bảo vệ tác quyền cho biết rõ trên công luận.

ĐẶNG NGUYỆT ÁNH

 

LỤC BÁT TUỔI 50 (1)

 

          Cất giùm tôi tuổi 50

          Để tôi về sống lại thời ngày xưa

          Cái thời lung liếng đong đưa

          Bao nhiêu cậu ấm cù cưa theo mình

          Dẫu rằng không hát trúc xinh

          Mà ai cứ đứng sân đình đợi ai

          Cái thời tóc phủ đầy vai

          Gót son guốc mộc con trai bận lòng

          Cái thời hai đưa còn không

          Lân la dối mẹ…qua sông hẹn hò

          …

 

          BAO GIỜ LẠI ĐẾN NGÀY XƯA (2)

         

          Bao giờ lại đến ngày xưa

          Để cho người ấy đón đưa tôi về

          Cơn mưa run rẩy mùa hè

          Đan thành kỷ niệm chở che hai người

          Thế rồi năm tháng dần trôi

          Và tôi cứ lớn bên người. Hồn nhiên

          Biết đâu là nợ là duyên

          Nào ai có dám hẹn nguyền gì đâu

          Vậy mà lại dở dang nhau

          Để heo may thổi bạc đầu mùa thu

          Người về ôm kỷ niệm xưa

          Lục bình ai thả bơ vơ giữa dòng

          Thế rồi chết một mùa đông

          Tôi đi lấy chồng. Người ấy ngẩn ngơ

          Bao giờ cho đến ngày xưa…

 

                          Đặng Nguyệt Ánh

      1.   - Lục bát tuổi 50 - Báo Thể thao Văn hóa Tết 1998                                             Trang 15

      - Nhà Xuất bản Giáo dục 2005

2.   - Bao giờ lại đến ngày xưa

      - Văn Nghệ Quân Đội 1998 Tháng 3-1998 Trang 19

 

Địa chỉ liên hệ: hoanggiang792000@yahoo.com

More...